TRƯỜNG CHÍNH TRỊ LÊ DUẨN

https://truongleduan.quangtri.gov.vn:443


Vận dụng một số tác phẩm của Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để phản bác luận điệu xuyên tạc: chủ nghĩa xã hội “chia đều sự nghèo khổ cho người dân” 

 
ThS. Nguyễn Thanh Đạt
Trưởng khoa Lý luận cơ sở
      Đặt vấn đề
      Đánh giá những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới cũng như quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã nêu rõ: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” . Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ để tuyên truyền, xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm suy yếu hệ thống chính trị, tiến tới làm sụp đổ chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta thì đặt ra yêu cầu, trách nhiệm lớn cho cán bộ, đảng viên là cần phải nhận thức đúng và phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái. Trong bài viết này, tác giả vận dụng một số tác phẩm của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch khi cho rằng chủ nghĩa xã hội “chia đều sự nghèo khổ cho người dân” .
      1. Một số nhận thức về chủ nghĩa xã hội
      Chủ nghĩa xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội ưu việt, tiến bộ hơn các xã hội trước đó về các đặc trưng kinh tế, chính trị, văn hóa… Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người khỏi mọi ách bóc lột về kinh tế và nô dịch về tinh thần, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời có bổ sung một số đặc trưng phản ánh đặc điểm, truyền thống của Việt Nam. Trong đó, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và con người được thể hiện rõ, đó là, “nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống cuộc đời hạnh phúc” .
      Ở nước ta, xây dựng chủ nghĩa xã hội một sự nghiệp vĩ đại, chưa có tiền lệ trong lịch sử nhân loại. Bởi vậy, trong nhận thức và tổ chức thực tiễn không thể tránh khỏi những sai lầm. Vượt qua những khó khăn, thử thách đó, Đảng ta với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, tôn trọng quy luật khách quan” đã dũng cảm đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội, về con đường lên chủ nghĩa xã hội.
Sau 5 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, năm 1991, Đảng tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là cương lĩnh đầu tiên của Đảng trong thời kỳ đổi mới, thể hiện tầm nhìn chiến lược về những vấn đề hệ trọng của đất nước. Một trong những nội dung quan trọng nhất của Cương lĩnh là xác định các đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng.
      Tiếp tục phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (năm 2006) đã có sự điều chỉnh trong nhận thức về các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong đó, đặc trưng thứ nhất: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh” được xem là đặc trưng tổng quát của mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
      Đại hội XI của Đảng (năm 2001) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011). Cương lĩnh của Đảng tiếp tục có những bổ sung, điều chỉnh về các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam với 8 đặc trưng lớn, trong đó đặc trưng tổng quát của xã hội xã hội chủ nghĩa được xác định rõ hơn: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” .
      Để đạt được những thành quả cả lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội như ngày hôm nay, “Nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần: Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do” .
      2. Vận dụng các tác phẩm của cố Tổng Bí thư để phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch
      Hiện nay, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế đang đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để hiện thực hóa con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.
     Tuy nhiên, các thế lực thù địch đang ra sức tuyên truyền những quan điểm sai trái về công cuộc đổi mới và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, nguy hiểm hơn cả là những âm mưu, hành động nhằm làm cho người dân suy giảm, mất niềm tin vào Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, các đối tượng chống phá, phản động đã thường xuyên ra sức bịa đặt, vu khống, đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc mô hình chủ nghĩa xã hội và đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa của nước ta. Một trong những luận điệu chúng đưa ra là chủ nghĩa xã hội “chia đều sự nghèo khổ cho người dân”. Phản bác lại luận điệu đó bằng những luận cứ cụ thể như sau:
      Trước hết, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định: Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và Nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là một chỉnh thể được cấu thành bởi 5 mục tiêu tồn tại trong mối quan hệ thống nhất. Chủ nghĩa xã hội chỉ trở thành hiện thực khi chủ thể xã hội là người dân có cuộc sống giàu có về vật chất, phong phú về tinh thần. Thành tố “Dân giàu” trong đặc trưng tổng quát của xã hội xã hội chủ nghĩa cũng là sự bác bỏ các luận điệu xuyên tạc nói trên của các thế lực thù địch.
      Thứ hai, trong tác phẩm "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra quan điểm về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội”.
Đồng thời, rất nhiều lần cố Tổng Bí thư đã nhấn mạnh đến mục tiêu của chủ nghĩa xã hội phải vì lợi ích của Nhân dân, đem lại hạnh phúc cho Nhân dân, như: “chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân, do Nhân dân và phục vụ lợi ích của Nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”; “Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hoà với lợi ích chính đáng của con người” . Như vậy, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân, chứ không phải là chia đều sự nghèo khổ cho Nhân dân.
      Thứ ba, tác phẩm “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng" của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát lại một cách khách quan, toàn diện những kết quả, thành tựu và bài học kinh nghiệm chủ yếu mà Đảng ta, đất nước ta, dân tộc ta đã đạt được qua các chặng đường lịch sử. Trong mỗi chặng đường, mặc dù có rất nhiều cam go, thử thách nhưng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta luôn chung sức đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ và thuận lợi để xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
      Trong tác phẩm này, cố Tổng Bí thư đã chỉ ra rằng, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về tổ chức và đường lối của cách mạng Việt Nam. Việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức gánh vác sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng.
      Tiếp đến, khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời năm 1945, cách mạng nước ta đã phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách, cùng một lúc phải đương đầu với "giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm" nhưng với bản lĩnh và trí tuệ, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta giành được nhiều thắng lợi vĩ đại để tiếp tục cuộc đấu tranh kiên cường giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa đất nước phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội.
       Trong thời kỳ đổi mới, cố Tổng Bí thư cũng thừa nhận rằng: “Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa; lực lượng sản xuất rất thấp, lại phải trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp”. Điều này có nghĩa là chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội “phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài” với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Đồng thời, không thể ngay lập tức mà có được “một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”;“con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.
      Thứ tư, tác phẩm “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng” đã đi sâu phân tích một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn ở nước ta, như: “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”, “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, “tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”; “nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”… Từ đó, đi đến thống nhất nhận thức các quan điểm: “Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển”; “xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn”; “vì lợi ích của Nhân dân, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Theo bài viết của cố Tổng Bí thư, mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã hình thành nhận thức tổng quát: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do Nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.
      Thứ năm, những thành quả của quá trình đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta mà cố Tổng Bí thư nêu ra trong tác phẩm “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng” đã chứng tỏ đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng lên đáng kể.
      Về mặt kinh tế, cho đến nay, quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỉ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. GDP bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300 USD năm 2023; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (khoảng 7.500 USD). Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Tỉ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% theo chuẩn cũ năm 1993 của Chính phủ xuống còn 2,93% theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước) năm 2023.
      Về mặt xã hội, chất lượng dân số từng bước được cải thiện, nâng cao gắn với sự chăm lo đầu tư phát triển các ngành y tế, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ theo đúng tinh thần coi ưu tiên đầu tư phát triển các lĩnh vực này là quốc sách hàng đầu; hiện đã có 12,5 bác sĩ và 32 giường bệnh trên 1 vạn dân; cùng với Trung Quốc, Việt Nam được Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá là hai quốc gia tiên phong trong đổi mới giáo dục và đã đạt được sự phát triển rất ấn tượng trong lĩnh vực này. Trong khi chưa có điều kiện để bảo đảm giáo dục miễn phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2014; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 20 lần trong gần 40 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có gần 99% số người lớn biết đọc, biết viết. Trong khi chưa thực hiện được việc bảo đảm cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho toàn dân, Việt Nam mở rộng diện bảo hiểm y tế bắt buộc và tự nguyện, đến nay đã đạt mức 93,35% (năm 1993 mới chỉ là 5,4%); đồng thời tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều dịch bệnh vốn phổ biến trước đây đã được khống chế thành công. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm gần 3 lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2023.
      Những kết quả, thành tựu mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đã nỗ lực phấn đấu đạt được góp phần làm cho đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
      Kết luận
      “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là những mục tiêu lâu dài, những giá trị bền vững, từng bước được hiện thực hóa trong quá trình đổi mới đất nước trên con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đại hội XIII đã khẳng định, cả dân tộc Việt Nam đang hòa nhịp vào dòng chảy của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế với “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” .
      Khát vọng thiêng liêng, lớn lao đó chỉ có thể được thực hiện khi chúng ta vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, với sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là phải truyền cảm hứng để hiện thực hóa khát vọng.
      TÀI LIỆU THAM KHẢO:
      1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011.
      2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021.
      3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10. Nxb Chính trị quốc gia. H, 2011.
      4. Hội đồng Lý luận Trung ương, Lý luận & Thực tiễn, Số 94 (228), tháng 6 năm 2021
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây