Phản bác quan điểm sai trái, thù địch về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua giảng dạy phần học “Nội dung cơ bản về nhà nước và pháp luật Việt Nam” - Chương trình trung cấp LLCT ở Trường Chính trị Quảng Bình

Thứ tư - 09/10/2024 14:11
ThS. Trương Văn Vinh
Phó Trưởng khoa Nhà nước và pháp luật
      Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch là một nhiệm vụ quan trọng của hệ thống chính trị, cán bộ đảng viên và Nhân dân trong giai đoạn hiện nay. Quán triệt đầy đủ nội dung Hướng dẫn số 475-HD/HVCTQG ngày 24/9/2019 của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh về thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thời gian qua dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của của Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường giảng viên Trường Chính trị Quảng Bình nói chung và giảng viên khoa Nhà nước và pháp luật nói riêng đã chủ động, tích cực tổ chức thực hiện các giải pháp phát huy vai trò, trách nhiệm của giảng viên, học viên tham gia tích cực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thông qua hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
      Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả, mỗi giảng viên Khoa Nhà nước và pháp luật đã luôn chủ động học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu kỹ những nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt là nội dung phần học Nội dung cơ bản về nhà nước và pháp luật Việt Nam; hệ thống quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Trong hoạt động giảng dạy luôn bảo đảm tính đảng, tính chiến đấu và tính khoa học. Tính đảng, đó là bảo đảm truyền đạt đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sánh pháp luật của Nhà nước. Tính chiến đấu là chất thép, chất lửa của người giảng viên-đảng viên, đứng trên lập trường của giai cấp công nhân vì lợi ích của Nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tính khoa học là nhìn nhận, phân tích, đánh giá vấn đề phải dựa và cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn khoa học khách quan để chứng minh, làm rõ những nội dung trong bài giảng giúp học viên không chỉ hiểu rõ, nắm vững kiến thức mà còn xây dựng, cũng cố niềm tin vững chắc vào Đảng, Nhà nước, vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân ta đã lựa chọn.
      Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không ngừng ra sức chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng nhằm thực hiện âm mưu “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” về nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Một trong những nội dung mà các thế lực này thường xuyên tạc, suy diễn, bóp méo sự thật là vấn đề xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, chúng “phủ nhận bản chất pháp quyền của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cho rằng “nhà nước pháp quyền là giá trị của các nước tư bản, việc Việt Nam đặt lại vấn đề xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền là có hướng đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”(!?) và “chỉ có nhà nước pháp quyền tư sản, không có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”(!?), từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.
Có thể khẳng định ngay rằng, đây là luận điệu sai trái, phản động, cơ hội chính trị của các thế lực thù địch đang tìm mọi cách chống phá công cuộc đổi mới của Đảng ta. Để phản bác lại các luận điệu sai trái, thù địch, phản động về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ nền tảng, tư tưởng của Đảng, yêu cầu giảng viên giảng dạy các bài thuộc phần học cần phải nắm vững và làm rõ những luận cứ xác đáng, thuyết phục để cũng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời nâng cao nhận thức, bồi đắp niềm của cho học viên vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.
      Thứ nhất, quan điểm cho rằng nhà nước pháp quyền là sản phẩm, thành tựu của chủ nghĩa tư bản là một quan điểm hoàn toàn sai, tự biện và duy ý chí
      Tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã hình thành và thể hiện trong quan điểm của các nhà tư tưởng từ thời cổ đại. Ở phương Đông, đó được xem là tư tưởng pháp trị của các nhà pháp gia, như: Quản Trọng, Thương Ưởng, Hàn Phi, v.v. Quản Trọng chủ trương đề cao “Luật, lệnh, hình, chính”, vua phải giữ pháp, “không vì vua muốn mà thay đổi lệnh, lệnh đáng tôn hơn vua”. Hàn Phi coi pháp là chuẩn mực cao nhất của việc cai trị đất nước, khi thi hành pháp luật thì không kể đến tình cảm riêng, không câu nệ chuyện thân sơ, sang hèn, tất cả đều bình đẳng trước pháp luật: “pháp luật không hùa theo người sang. Sợi dây dọi không uốn mình theo cây gỗ cong. Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu”. Ở phương Tây, điển hình là: Xô-crát (469 - 399 Tr.CN), Arixtốt (384 - 322 Tr.CN), Xixêrôn (l06 - 43 Tr.CN). Những tư tưởng này đã được các nhà tư tưởng chính trị và pháp lý tư bản sau này như: John Locke (1632 - 1704), Montesquieu (1698 - 1755), J.J.Rút-xô (1712 - 1778), I.Kant (1724 - 1804), Hêghen (1770 - 1831),… phát triển như một thế giới quan pháp lý mới. Cùng với các nhà lý luận nổi tiếng nói trên, nhiều nhà luật học, nhà tư tưởng vĩ đại khác cũng đã góp phần phát triển các tư tưởng về nhà nước pháp quyền như Tômát Jepphecxơn (1743 - 1826 - tác giả của Tuyên ngôn độc lập Mỹ năm 1776), Tômát Pên (1737 - 1809), Jôn A đam (1735 - 1826), v.v.
      Như vậy, tư tưởng về nhà nước pháp quyền có từ rất sớm, có trước chủ nghĩa tư bản; nó là sản phẩm của nhân loại, chứ không phải là thành tựu của chủ nghĩa tư bản. Hơn nữa, tư tưởng về nhà nước pháp quyền không chỉ có đóng góp của các triết gia trước tư sản, mà còn có sự đóng góp của những nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội. C.Mác, Ph.Ăgghen và VI.Lênin dù không chính thức nói đến nhà nước pháp quyền như là một trong những nội dung chính yếu trong học thuyết của mình, nhưng các ông luôn quan tâm đến Nhà nước và cách mạng, Nhà nước và pháp luật. Trong các bài viết, bài nói, họ đã thể hiện tư tưởng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăgghen được thể hiện trong các tác phẩm: “Sự khốn cùng của triết học”, “Phê phán triết học pháp quyền Hegel”,v.v. C.Mác chỉ ra cơ sở xã hội như nền tảng vật chất của pháp luật; Ông cho rằng “chế độ dân chủ không phải con người tồn tại vì luật pháp mà luật pháp tồn tại vì con nguời”. Ph.Ăghen viết: “đối với chúng ta,… điều bất di bất dịch là quan hệ giữa người cầm quyền và người bị lãnh đạo phải được thiết lập trên cở sở pháp luật”(1). VI.Lênin tiếp thu, phát triển tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăgghen và đưa học thuyết của các Ông đến mức độ hoàn bị hơn. VI.Lênin nói: “Nếu không rơi vào không tưởng thì không thể nghĩ rằng sau khi lật đổ chủ nghĩa tư bản, người ta tức khắc có thể làm việc cho chủ nghĩa xã hội mà không cần phải có một tiêu chuẩn pháp quyền nào cả”. Trong xây dựng Nhà nước Xô viết, VI.Lênin nhiều lần đòi hỏi bộ máy chính quyền phải thật sự là của nhân dân lao động, phải thật sự bảo đảm dân chủ, phải dùng pháp luật (pháp luật Xô viết) để đấu tranh chống sự lề mề, quan liêu, hối lộ (tức là phải sử dụng pháp luật, đưa pháp luật lên trên hết), v.v. Như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội dù không xem nhà nước pháp quyền là bộ phận trong học thuyết của mình, nhưng trong toàn bộ học thuyết vĩ đại ấy đã thể hiện quan điểm về những yếu tố pháp quyền, góp phần làm phong phú tư tưởng về nhà nước pháp quyền và đặt ra những ý tưởng mầm mống về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
      Thực tiễn lịch sử nhân loại minh chứng, nhà nước pháp quyền ngoài các giá trị phổ biến còn bao hàm các giá trị đặc thù của mỗi quốc gia, dân tộc. Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền được xác định bởi hàng loạt yếu tố. Các yếu tố này về thực chất là rất đa dạng, phong phú và phức tạp, được xác định bởi các điều kiện về lịch sử, truyền thống - văn hóa, tâm lý xã hội của mỗi dân tộc, các chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa và môi trường địa lý. Vì thế, không thể có một nhà nước pháp quyền chung chung như một mô hình chung thống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc. Mỗi quốc gia, dân tộc, tùy thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp. Do vậy, nói nhà nước pháp quyền là sản phẩm, là thành tựu của chủ nghĩa tư bản là một quan điểm hoàn toàn sai lầm.
      Thứ hai, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được hình thành và phát triển gắn liền với những cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc
      Quan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn lọc tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại và là sự vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể ở nước ta. Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề Nhà nước và pháp luật giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân. Theo tư tưởng của Người, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực Nhà nước. Toàn bộ quyền lực Nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân. Điều 1, Hiến pháp 1946 do Người làm Trưởng ban soạn thảo, khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.
      Quan điểm của Ðảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được thể hiện xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, gắn bó chặt chẽ với Nhân dân và phục vụ lợi ích của Nhân dân, dân tộc. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo”, được cụ thể hóa tại Khoản 1, Điều 2, Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”2.
      Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được khẳng định trong các bản Hiến pháp của Việt Nam. Với Hiến pháp năm 1946, chủ nghĩa lập hiến và quyền con người từ các giá trị tư tưởng đã trở thành các giá trị pháp luật hiện thực trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Những quy định của Hiến pháp năm 1946 là những chuẩn mực hiến định đầu tiên cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Gần 80 năm qua, 5 bản Hiến pháp đã lần lượt tương ứng với các giai đoạn phát triển của cách mạng nước ta. Vượt lên tất cả sự thăng trầm, phức tạp của thời cuộc, mỗi bản Hiến pháp (các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013) là một mốc quan trọng trong quá trình xây dựng và củng cố Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của chúng ta.
      Thứ ba, thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực, có bước phát triển mới
      Nhận thức, lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng thống nhất, đầy đủ và sâu sắc hơn. Hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện một bước cơ bản; vai trò của pháp luật và việc thực thi pháp luật được chú trọng trong tổ chức, hoạt động của Nhà nước và xã hội. Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ngày càng rõ hơn và có chuyển biến tích cực. Bộ máy nhà nước từng bước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tổ chức và hoạt động của Quốc hội có nhiều đổi mới, chất lượng được nâng cao. Hoạt động của Chính phủ chủ động, tích cực, tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô, tháo gỡ rào cản, phục vụ, hỗ trợ phát triển. Cải cách hành chính, cải cách tư pháp có bước đột phá trên một số lĩnh vực. Quyền con người, quyền công dân theo Hiến định tiếp tục được cụ thể hóa bằng pháp luật và thực hiện tốt hơn trên thực tế; dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện được tăng cường. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội từng bước được đổi mới. Mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng được hoàn thiện, vận hành theo cơ chế "Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ", với tám đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đó là: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật; Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, được thực hiện nghiêm minh và nhất quán; độc lập của tòa án theo thẩm quyền xét xử, thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; tôn trọng và bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế.
      Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên cho thấy: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa khác về bản chất với nhà nước pháp quyền tư sản. Pháp quyền dưới chủ nghĩa tư bản, về thực chất, là công cụ bảo vệ và phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chủ nghĩa xã hội là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Thực tiễn và kinh nghiệm qua gần 40 năm đổi mới cũng như việc học hỏi, tham khảo kinh nghiệm của các nước trong tiến trình hội nhập quốc tế đã cho thấy, tính đúng đắn và sáng tạo của Đảng trong hoạch định đường lối đổi mới, lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không “tam quyền phân lập” mà thống nhất quyền lực của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. “Thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự giám sát của Nhân dân”(3) là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại./.

(1). Viện Nhà nước và pháp luật - Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Tập I, Nxb Lý luận chính trị. 2000, tr. 118 - 119.
(2). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H. 2021, tr. 174
(3). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây