Trao đổi một vài kinh nghiệm trong giảng dạy “Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh - Giai đoạn 1911–1920”

Thứ tư - 05/11/2025 09:24

 
  ThS. Đoàn Thị Phượng
Trường Chính trị Lê Duẩn
    Tóm tắt:
    Giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1920 là giai đoạn quan trọng - Nguyễn Ái Quốc từ một người yêu nước, trở thành người cộng sản, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc Việt Nam. Khi giảng về giai đoạn này trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng viên phải rất công phu, tỉ mỉ trong nghiên cứu, chọn lọc các tư liệu đắt giá về Người để giúp bài giảng sinh động, hấp dẫn, giúp học viên nhận thức sâu sắc hơn sự phát triển về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
    Từ khóa:
    Tư tưởng Hồ Chí Minh; Giai đoạn 1911-1920; sự chuyển biến tư tưởng.
    1. ĐẶT VẤN ĐỀ
    Khi nói đến chất lượng giảng dạy, nhiều người thường nghĩ ngay đến phương pháp, cách thức truyền đạt kiến thức sao cho sinh động, hấp dẫn. Điều đó quả thật quan trọng. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở hình thức, bài giảng sẽ thiếu chiều sâu. Chính nội dung, được cấu trúc chặt chẽ và phát triển logic qua từng phần nhỏ, mới là yếu tố quyết định làm nên giá trị thực sự của bài giảng. Bài giảng thiết thực hay không, học viên hiểu bài hay không phụ thuộc rất lớn vào sự nỗ lực của giảng viên trong chuẩn bị nội dung bài giảng; cách giảng viên tìm kiếm, lựa chọn các tư liệu phù hợp, đắt giá, phong phú để cắt nghĩa, lý giải từng nội dung trong bài.
    2. NỘI DUNG
    Với chuyên đề đầu tiên của học phần Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh: Nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng viên phải tỉ mẫn soạn giảng từng mục nhỏ từ phân tích định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh đến giảng giải về nguồn gốc ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh và làm rõ quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như phân tích để học viên hiểu sâu sắc giá trị tư tưởng của Người đối với dân tộc và nhân loại. Trong quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Người từ năm 1890 đến năm 1969 thì giai đoạn từ năm 1911-1920 là giai đoạn quan trọng, giảng viên cần tìm các tư liệu để hiểu đầy đủ, sâu sắc sự chuyển biến tư tưởng của Người giai đoạn này để có thể giảng giải cho học viên hiểu dễ nhất và chính xác nhất.
    Giai đoạn từ năm 1911 – 1920 là thời kỳ Người có nhiều hoạt động sôi nổi, giai đoạn ghi dấu sự chuyển biến mạnh mẽ tạo nên sự phát triển về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Thế nhưng, giai đoạn này trong giáo trình Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ giới thiệu: “Đây là giai đoạn Nguyễn Tất Thành đi sang phương Tây, đến các châu lục khảo sát, tìm hiểu một cách toàn diện đời sống của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và nghiên cứu về các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, đặc biệt là cách mạng tư sản…
    Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và tìm ra con đường cách mạng Việt Nam là con đường cách mạng vô sản”[1].
Mặc dù giáo trình chỉ viết rất ngắn gọn, nhưng trách nhiệm của một người giảng viên là phải làm sao để sáng rõ được những nội dung giáo trình đã nêu, phải tìm được những luận cứ, luận chứng sắc sảo nhất để chứng minh cho những luận điểm đó. Hơn thế, điều quan trọng khi giảng dạy giai đoạn này là giảng viên phải làm rõ được quá trình chuyển biến mạnh mẽ, sự phát triển về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh: từ một người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Phải làm được điều đó thì học viên mới nhìn thấy sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là cả một quá trình từ cảm tính đến lý tính. Nếu chỉ dựa vào nội dung trong giáo trình thì học viên chưa hiểu được sự chuyển biến đó. Điều đó buộc giảng viên phải tìm tòi thêm những câu chuyện kể thực về Bác làm lay động trái tim học viên, tìm thêm các tư liệu quý hiếm, giá trị, cụ thể từ việc nghiên cứu kỹ tập 1 trong Hồ Chí Minh toàn tập và tập 1 của Hồ Chí Minh - biên niên tiểu sử. Những tư liệu đó sẽ hỗ trợ lớn giúp học viên dễ dàng hình dung hành trình 10 năm của Người một cách sinh động, rõ ràng nhất.
    Sinh ra và lớn lên trong một đất nước có quá nhiều vết thương đang rỉ máu; với tấm lòng yêu nước, thương dân tha thiết, sau nhiều suy nghĩ, trăn trở để đi đến một quyết định quan trọng: Ngày 05/6/1911, Nguyễn Tất Thành bước xuống tàu Amiral Latouche Tréville bắt đầu hành trình đi tìm đường cứu nước.
    Đây không phải là người con đầu tiên của dân tộc xuất dương tìm đường cứu nước nhưng là người đầu tiên lựa chọn hướng đi hoàn toàn mới - Tây du. Từ quyết định Tây du của Người một phương hướng cứu nước mới đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam.
Sau một tháng vượt đại dương, ngày 06/7/1911, Nguyễn Tất Thành đặt chân lên bến Mác-xây nước Pháp. Ở Pháp, Người nhận ra rằng, người Pháp ở Pháp có những điểm khác so với bọn thực dân ở Đông Dương. Đây chính là nhận thức quan trọng để sau này Người phân biệt sự khác nhau giữa nhân dân Pháp với bọn thực dân và có thái độ đúng đắn đối với những người này.
    Trong hai năm từ 1911-1913, làm việc trên tàu biển, Nguyễn Tất Thành có dịp đi qua nhiều nước. Đến An-giê-ri, Người đã chứng kiến nhiều cảnh tượng giống Việt Nam... có từng đoàn phụ nữ, rất nhiều ông già, bà già, trẻ con lũ lượt kéo tới các nhà ga để ăn xin. Khi đến Xê-nê-gan, Người đã chứng kiến những người da đen bị bọn thực dân bắt bơi ra liên lạc với chiếc tàu ở ngoài khơi, giữa lúc biển nổi sóng dữ dội, nhiều người bị sóng biển cuốn đi. “Cảnh tượng ấy mọi người coi là thường” nhưng nó đã chà xát cõi lòng Văn Ba. Anh đã khóc. Cuộc tìm hiểu thực tế rất phong phú ở các nước thuộc địa đã giúp Người nhìn rõ hơn bộ mặt bịp bợm của bọn thực dân khi đi xâm lược các nước làm thuộc địa. Sự xích lại gần nhau giữa Nguyễn Ái Quốc với giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc bị áp bức trên thế giới, xét cho cùng, là sự xích lại ngày càng gần giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên thế giới. Đây là công lao đầu tiên của Người trong việc gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới.
    Năm 1912, khi sống và lao động ở Mỹ, Người bắt gặp hai hình ảnh trái ngược nhau. Khu Harlem là biểu hiện tập trung của sự khốn cùng bi đát của người da đen, còn Tượng Nữ thần Tự do là biểu tượng của sự vinh quang chói lọi của nước Mỹ. Khi đến thăm Tượng Nữ thần Tự do, Người đã ghi vào sổ cảm tưởng ý kiến riêng của mình: “ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng thần Tự Do này thì người da đen bị chà đạp; số phận người phụ nữ bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ mới có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”[2]. Những bài học tại thực địa giúp Người bắt đầu có một cái nhìn khái quát về xã hội phương Tây, kiến thức của Người thêm phong phú, tư duy càng phát triển. Đây là một cơ sở để hình thành ở Người tư tưởng về quyền con người, quyền bình đẳng thực sự giữa các dân tộc.
    Năm 1917, Nguyễn Tất Thành quay lại Pháp. Người chọn Paris làm điểm dừng chân. Paris, dưới con mắt của Người, là một tấm gương phản chiếu rõ nhất hai thái cực của cuộc sống trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Paris có những nhà tỉ phú, triệu phú kếch sù, quanh năm ngày tháng chúng sống bằng nghề ăn bám vào sức lao động của công nhân. Paris có những bộ quần áo cực kỳ xa hoa, giá đắt ngàn vàng. Song ở đây, cũng có vô số những cuộn giẻ rách mà người lao động dùng làm thay quần áo mặc đến xưởng làm việc. Người nói: “Pari có một vùng..., tự một mình nó trình diễn được đủ bộ mặt và đủ tâm lý của cả Pari, cả nước Pháp và cả vũ trụ. Ai có muốn nghiên cứu tình hình xã hội thời buổi ta ngày nay, thì chỉ cứ đi ngang vùng này mà thôi là đáng giá cả một pho sách lớn cỡ bách khoa toàn thư vậy”[3].
    Cuộc khảo sát thực tế của Văn Ba ở “chính quốc” Pháp giúp Người thấy rõ bản chất bóc lột, sự tham lam của tư bản Pháp. Mặt khác, Người thấy rằng, nhân dân lao động ở “chính quốc” và nhân dân lao động ở các nước thuộc địa đều có chung một kẻ thù là chủ nghĩa tư bản, với chủ nghĩa tư bản thì ở đâu chúng cũng tàn ác và vô nhân đạo. Từ chỗ yêu thương, muốn đấu tranh giải phóng đồng bào mình, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến chỗ thông cảm, thương yêu nhân dân lao động nhiều nước trên thế giới.
    Đầu năm 1919 Người tham gia Đảng Xã hội Pháp. Tháng 6/1919, nhân danh những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Người gửi đến hội nghị Versailles bản “Yêu sách 8 điểm” đòi quyền tự do, dân chủ, bình đẳng cho nhân dân ta. “Với lời lẽ khiêm nhường nhưng cũng là bước đi đầu tiên đầy dũng cảm vào con đường chính trị, Nguyễn Ái Quốc đã công khai tuyên chiến với thế lực thực dân trước mặt cả thế giới”[4]. Bản “Yêu sách 8 điểm” không được bọn đế quốc chấp nhận giúp Người hiểu rõ hơn bản chất của bọn đế quốc thực dân và rút ra kết luận “các dân tộc bị áp bức muốn được tự do thì phải dựa vào sức mình là chính; người Việt Nam phải tự giải phóng lấy mình, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”.
    Tháng 12/1919, Người đã tham gia Đảng Xã hội Pháp, trở thành nhà hoạt động trong phong trào công nhân Pháp. Đây là một dấu ấn trong hành trình tìm đường cứu nước, Người tự nguyện gắn vai trò của mình trong một tổ chức cụ thể, để từ đó có môi trường và điều kiện tiếp tục hoạt động, đấu tranh và trưởng thành.
    Bước ngoặt quan trọng trong quá trình tìm đường cứu nước của Người đã được mở ra khi lần đầu tiên vào tháng 7 năm 1920, Người tiếp xúc với “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin. Luận cương của Lênin đến với Nguyễn Ái Quốc ví như người đi đường đang khát gặp nguồn nước mát, như người đã vượt qua đêm tối để thấy được ánh sáng mặt trời. Những luận điểm của Lênin đã đáp ứng khát vọng cháy bỏng của hàng triệu dân tộc thuộc địa đang tìm đường giải phóng, trong đó có dân tộc Việt Nam.
Luận cương của Lênin tạo nên sự phát triển vượt bậc về chất trong tư duy Nguyễn Ái Quốc để rồi tại Đại hội Tua năm 1920, sau nhiều lần tranh luận, Người quyết định bỏ phiếu tán thành Quốc tế cộng sản và tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp. Đây là quyết định quan trọng, sau quyết định đi sang phương Tây tìm đường cứu nước. Quyết định đầu vạch ra chuyến đi, quyết định sau khẳng định con đường đúng đắn phải đi.
    3. KẾT LUẬN
    Các dữ kiện thu thập được trên là chất liệu quý và cần để giảng viên sử dụng phân tích giúp hành trình 10 năm tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc có thể hiện lên sinh động như những thước phim quay chậm lại cuộc đời Người. Học viên sẽ hiểu và nhớ sâu sắc sự chuyển biến từng bước trong tư tưởng của Người; thấy được tầm cao của một tư tưởng vĩ đại, sự tinh tuý và thiên tài Hồ Chí Minh đã bộc lộ rực rỡ, báo hiệu những trang mới của cách mạng Việt Nam. Sự tỉ mẫn soạn giảng trong từng mục nhỏ sẽ giúp giảng viên mở rộng sự hiểu biết, để tự tin làm chủ bục giảng, giải đáp những thắc mắc học viên đặt ra, để từng ngày nâng cao chất lượng giảng dạy./.
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Giáo trình trung cấp Lý luận chính trị (2022): Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
    2. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
    3. Hellmut Kapfenberger (2009): Hồ Chí Minh – Một biên niên sử Nxb Thế giới, Hà Nội.
 

    [1] Giáo trình trung cấp Lý luận chính trị - hành chính (2017): Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tr.346, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
    [2] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Sđd, Tập 1, tr.192.
    [3] Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, d, Tập 1, tr.104.
    [4] Hellmut Kapfenberger (2009): Hồ Chí Minh – Một biên niên sử, tr.43, Nxb Thế giới, Hà Nội.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây