TRƯỜNG CHÍNH TRỊ LÊ DUẨN, 70 NĂM XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH

Thứ sáu - 04/12/2015 10:53
Thạc sỹ Nguyễn Hữu Thánh
Bí thư Đảng ủy - Hiệu trưởng
 

 

Tháng 9 năm 2015 này, khi đất nước hân hoan kỷ niệm 70 năm ngày Quốc khánh, đánh dấu sự ra đời của nước Việt Nam độc lập, Trường Chính trị Lê Duẩn cũng tròn 70 năm tuổi. Bảy mươi năm của một ngôi trường là bảy mươi năm đồng hành cùng đất nước, đồng hành cùng nhân dân, cùng quê hương Quảng Trị. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Trường Chính trị Lê Duẩn đã làm tròn nhiệm vụ mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân giao phó: đào tạo và bồi dưỡng cán bộ phục vụ công cuộc chiến đấu, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

Chỉ một tuần sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh với bản Tuyên ngôn độc lập vang lên giữa quảng trường Ba Đình trước muôn triệu đồng bào và thế giới : “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”

Trường Cán bộ Việt Minh Quảng Trị được thành lập (ngày 10-9-1945) cũng chính là góp một phần nhỏ vào công cuộc “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập” trong bản Tuyên ngôn độc lập. Từ gian hành cung trong Cổ thành Quảng Trị mùa thu năm 1945 cho đến ngôi trường đĩnh đạc trên quê hương Quảng Trị hôm nay, khó kể hết bao nhiêu thế hệ giảng viên và học viên của nhà trường đã cống hiến sức mình trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cho đến công cuộc xây dựng quê hương từ sau năm 1975 đến nay.
 

Gắn bó cùng hai cuộc kháng chiến trường kỳ

Ngày 10-9-1945 được coi là cột mốc lịch sử của Trường Cán bộ Việt Minh Quảng Trị, nhưng khởi thủy của ngôi trường đã ươm mầm từ những người con Quảng Trị như Hoàng Hữu Đàn, Nguyễn Xuân Luyện của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, chi bộ Thanh Niên Quảng Trị vào những năm trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) để học và sau này trở về tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin.

Từ những ngày đầu gian khổ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhận thức được vai trò quan trọng của công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ cho cách mạng Trường Cán bộ Việt Minh đã được đích thân đồng chí Đặng Thí - Bí thư tỉnh ủy kiêm nhiệm Hiệu trưởng nhà trường. Thế hệ những lãnh đạo đầu tiên của trường còn có thêm các đồng chí: Nguyễn Xuân Linh (người Nghệ An) - Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy do Khu ủy 4 tăng cường cho Quảng Trị. Những lớp học mở ra trong những năm tháng gian khó ấy đã đào luyện nên những học viên xuất sắc, làm nòng cốt cho tỉnh nhà về sau như các đồng chí Hồ Sỹ Thản, cấp ủy xã Cam Thanh (Cam Lộ) sau này là Bí thư Đảng ủy khu vực Vĩnh Linh, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, đồng chí Nguyễn Kham, nguyên Chủ tịch UBND huyện Triệu Hải; đồng chí Trần Xuân Lư, cán bộ bộ đội địa phương, sau này là thiếu tướng QĐND Việt Nam; đồng chí Lê Dũng nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị.

Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, những thế hệ học viên đầu tiên của trường đã được trang bị kiến thức lý luận cách mạng để chuẩn bị bước vào cuộc đấu tranh mới, trường kỳ hơn, gian khổ hơn, khốc liệt hơn!

Hiệp đình Geneve đã biến Quảng Trị thành mảnh đất bị chia cắt, một tỉnh mà nằm ở hai miền, mang vác trong mình số phận của một giai đoạn lịch sử. Từ 1955 đến 1960, trong bối cảnh đất nước tạm thời chia làm hai miền, ở miền Nam, Mỹ - Diệm khủng bố tàn bạo, thực hiện chính sách “Tố cộng diệt cộng” khắp cả nông thôn lẫn thành thị hòng xóa bỏ cơ sở cách mạng. Chúng thành lập các trại tập trung gọi là khu trù mật, ban hành Luật 10.59 công khai tàn sát nhân dân ta với những hình thức man rợ. Vì vậy, Trường Đảng tạm thời rút vào bí mật. Đây cũng là thời kỳ lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng nề, nhưng trong mỗi người dân, mỗi cán bộ đang rút vào bí mật, mỗi ngôi làng, mỗi góc xóm đều ấp ủ những bếp than yêu nước đợi ngày bùng lên thành ngọn lửa phong trào!

Giữa năm 1961, Thường vụ Tỉnh ủy quyết định thành lập lại Trường Đảng tỉnh do đồng chí Trương Công Kỉnh, Bí thư Tỉnh ủy làm Hiệu trưởng. Bất chấp địch ruồng bố, càn quét, những lớp học được mở ra bên những bản làng khe suối miền Tây Quảng Trị, trong những căn hầm bí mật vùng địch hậu, trang bị kiến thức lý luận cách mạng trong giai đoạn mới để nhen nhóm lại phong trào, đáp ứng các nhiệm vụ cơ bản của phong trào cách mạng địa phương trong giai đoạn này: Khẩn trương xây dựng miền Tây vững chắc về mọi mặt, phát động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh ở đồng bằng; công tác binh vận là nhiệm vụ quan trọng và đặt ra thường xuyên.Từ lý luận và thực tiễn tiếp thu được, những cán bộ, học viên đã sát cánh cùng cơ sở, làm tốt công tác vận động quần chúng, giúp nhân dân nắm vững đường lối và phát động quần chúng làm nên các phong trào cách mạng ở địa phương. Cuộc đấu tranh trên chiến trường miền Nam ngày càng khốc liệt, nhiệm vụ của trường Đảng trong giai đoạn này càng nặng nề. Vùng giải phóng ngày càng mở rộng, miền Tây Quảng Trị trở thành chiến khu. Khu ủy Trị Thiên được thành lập. Để đáp ứng với tình hình mới, nhiệm vụ mới, công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ càng được nâng cao. Hàng chục lớp học được mở từ trong những cánh rừng căn cứ địa miền Tây, có lúc để đảm bảo an toàn, lớp học mở sang tận chân núi Cao Bồi thuộc đất bạn Lào. Lửa thử vàng gian nan thử sức, chính trong những tháng ngày gian khó nhất, khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, đội ngũ cán bộ giảng viên, học viên của trường càng được thử thách rèn luyện; từ những cánh rừng căn cứ miền Tây, chiến thắng Quảng Trị 1972 đã mở ra một cục diện mới, đặc biệt sau hiệp định Paris 1973, Trường đã dời từ rừng già về đồng bằng, đặt cơ sở tại xã Cam Thủy, huyện Cam Lộ. Thời cơ giải phóng miền Nam đang đến gần hơn bao giờ hết, nhiệm vụ của trường lúc này ngoài việc củng cố tổ chức, xây dựng cơ sở vật chất còn lo chiêu sinh đào tạo cán bộ cơ sở để kịp thời đáp ứng đội ngũ cán bộ cho chiến trường và cho vùng giải phóng.

Nếu công tác huấn luyện, đào tạo của trường Đảng ở vùng đất nam Vĩ tuyến 17 diễn ra trong vòng vây của địch, chịu đựng những cuộc càn quét, ném bom của địch thì ở Vĩnh Linh địa đầu tuyến lửa phía bắc, trường Đảng được mang tên người nữ chiến sĩ cộng sản đầu tiên Nguyễn Thị Minh Khai cũng được hình thành với nhiệm vụ lớn lao. Trong bối cảnh miền Bắc bắt tay hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, không chỉ trang bị lý luận cho các cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên tuyến đầu phía Bắc, trường Đảng khu vực Vĩnh Linh cùng với nhân dân toàn miền Bắc đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ kéo dài những năm cuối thập niên 60 đến đầu những năm 70. Những năm tháng khốc liệt nhất , khi địch ném bom phá hoại trên diện rộng, gây ra nhiều tổn thất cho nhân dân, Nhà trường đã cử các cán bộ giảng viên về tận từng xã để mở lớp nhằm phổ biến chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước và Khu vực, động viên nhân dân yên tâm sản xuất và chiến đấu.

Năm 1968 , sau Mậu Thân, tình hình vô cùng khốc liệt, trường Đảng khu vực đã dời cơ sở lên tận hậu cứ vùng núi, tiếp tục mở các lớp đào tạo, học ngay dưới các hầm hào. Suốt 20 năm từ 1956-1976, trường Đảng Nguyễn Thị Minh Khai của khu vực Vĩnh Linh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng bộ giao phó, góp phần làm nên đại thắng mùa xuân 1975 của cả nước.

Nhiệm vụ trọng đại của giai đoạn mới

Đất nước thống nhất, nhân dân cả nước bắt tay và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, ba tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên hợp thành tỉnh Bình Trị Thiên, Trường Đảng của các tỉnh cũng tập trung về một đầu mối, ngày 4-7-1976 Trường Đảng Bình Trị Thiên được thành lập để rồi chín năm sau, vào tháng 10-1985, Trường Đảng Bình Trị Thiên chính thức được đổi tên thành Trường Lê Duẩn Bình Trị Thiên. Mười ba năm trong ngôi trường hợp nhất, Trường Lê Duẩn Bình Trị Thiên đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp đào tạo bồi dưỡng cán bộ trên địa bàn cho đến tháng 7-1989, để đáp ứng yêu cầu mới, nhiệm vụ mới, nhiều tỉnh thành trở về với địa giới hành chính cũ, Trường Đảng Lê Duẩn Bình Trị Thiên cũng được tách làm ba, và Trường Đảng của Quảng Trị vẫn được mang tên cố Tổng bí thư Lê Duẩn theo Quyết định số 26/QĐ-TV của Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị. Đến năm 1993, Tỉnh ủy Quảng Trị ban hành Quyết định số 146/QĐ/TV hợp nhất Trường Đảng và Trường Hành chính tỉnh thành Trường Chính trị Lê Duẩn như hiện nay.

Hơn một phần tư thế kỷ trôi qua từ ngày tái lập tỉnh, cũng là một phần tư thế kỷ Trường Chính trị Lê Duẩn gắn bó máu thịt với quê hương, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền địa phương, góp phần đào tạo và bồi dưỡng nhiều cán bộ cho địa phương, cơ sở… nhiều cơ quan, ban ngành đoàn thể trong tỉnh. Đã có hàng ngàn học viên được đào tạo thuộc các chương trình trung cấp lý luận chính trị - hành chính do Học viện ban hành; chương trình bồi dưỡng chuyên viên, chuyên viên chính do Học viện Hành chính ban hành; chương trình bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo cho bí thư, phó bí thư cấp xã; bồi dưỡng kỹ năng cho chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, UBND cấp xã; bồi dưỡng các chức danh chủ chốt của Mặt trận và các đoàn thể; phối hợp với Trường Quân sự tỉnh trong việc giảng dạy phần lý luận chính trị, quản lý nhà nước cho đối tượng là chỉ huy trưởng, phó chỉ huy trưởng quân sự cấp xã; phối hợp với Công an tỉnh đào tạo trình độ trung cấp lý luận chính trị - hành chính cho trưởng, phó công an xã. Trường cũng phối hợp với Học viện Chính trị Khu vực III mở được 8 khóa cao cấp lý luận chính trị, cao cấp lý luận chính trị - hành chính và 3 khóa cử nhân chính trị; 01 khóa hoàn chính cử nhân chính chính trị; phối hợp với Học viện Hành chính quốc gia mở 01 khóa cử nhân hành chính, với tổng số cả hai loại hình trên 1300 học viên .

Từ năm 2000 đến nay, trung bình mỗi năm Nhà trường tổ chức quản lý, giảng dạy khoảng 20 lớp với khoảng 1600 -1800 học viên (kể cả đào tạo và bồi dưỡng). Hiện nay, do chuẩn hóa về trình độ chuyên môn và trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước nên Nhà trường đã phối hợp với các huyện, thị, thành phố, các sở, ban ngành mở các lớp tại chức theo yêu cầu của các đơn vị từ nguồn kinh phí của ngân sách hoặc xã hội hóa. Những học viên của nhà trường thực sự đã mang kiến thức được đào tạo trở về địa phương, đơn vị, góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng , bảo vệ và phát triển tỉnh nhà!

Công tác nghiên cứu khoa học được đẩy mạnh, nhiều đề tài ứng dụng vào thực tiễn đãphát huy hiệu quả. Từ 1990 đến năm 1998, có khoảng 40 đề tài khoa học cấp trường được thực hiện. Từ năm 2000 đến 2015, công tác nghiên cứu khoa học đã thực sự đi vào nền nếp, chất lượng nghiên cứu khoa học ngày càng được nâng cao. Đội ngũ cán bộ, giảng viên Nhà trường đã tham gia thực hiện 5 đề tài cấp tỉnh; 18 đề tài khoa học cấp Trường; 9 Hội thảo khoa học cấp Trường. Ngoài ra đội ngũ cán bộ, giảng viên của trường còn tham gia nhiều hội thảo khoa học, nhiều Hội đồng phản biện và các hoạt động khoa học khác của tỉnh, của Sở Khoa học và Công nghệ và các đơn vị khác của tỉnh tổ chức.

Không chỉ đào tạo bồi dưỡng cán bộ cho tỉnh nhà, từ năm 2008 đến nay thực hiện chỉ thỉ của Bộ Chính trị về tăng cường hợp tác toàn diện với nước bạn Lào, được sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Nhà trường đã phối hợp chặt chẽ với Ban Tổ chức Tỉnh ủy cùng các cơ quan chức năng đã đào tạo được 5 khóa trung cấp lý luận chính trị - hành chính cho hai tỉnh bạn Lào với 190 học viên (trong đó Tỉnh Savannakhet 100 học viên; tỉnh Salavan 90 học viên).

 Cùng với nhiệm vụ đào tạo bồi dưỡng, số lượng và chất lượng cán bộ giảng viên của nhà trường không ngừng lớn mạnh, từ chổ với 8 cán bộ giảng viên ban đầu, đến nay, trong tổng số 30 giảng viên có 01 tiến sỹ, 20 thạc sỹ, còn lại một số giảng viên trẻ mới tuyển dụng sẽ tiếp tục cử đi đào tạo chính quy tại Học viện trung tâm hoặc Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Hành chính. Nhiều cán bộ lãnh đạo nhà trường đã được tín nhiệm giữ những trọng trách quan trọng của tỉnh như đồng chí Nguyễn Đăng Tam, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy - Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; đồng chí Phạm Đức Châu, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh.

Trường cũng đã được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (2002), Huân chương Lao động hạng Nhì (2012), nhiều bằng khen, cờ thi đua của các cấp; bằng khen của hai tỉnh bạn Lào. Những thành tích và sự lớn mạnh ấy có được là nhờ sự lãnh đạo cỉa Đảng bộ và chính quyền tỉnh nhà, sự quan tâm hỗ trợ của Học viện Chính Trị Hành chính Quốc gia, là nỗ lực của đội ngũ cán bộ giảng viên nhà trường, là sự hợp tác của từng học viên…

Phát huy thành quả đã đạt được, trong giai đoạn mới cần tiếp tục xây dựng, giữ gìn, phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất trong nhà trường. Phát huy tính năng động, đề cao tinh thần trách nhiệm ở mỗi vị trí việc làm vì sự phát triển chung của nhà trường. Nâng cao ý thức và lòng tự trọng về nghề nghiệp của mỗi cán bộ, giảng viên.Tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, kiện toàn đội ngũ giảng viên có phẩm chất chính trị tốt, có năng lực và năng khiếu sư phạm.Tăng cường kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của nhà trường. Duy trì nền nếp giảng dạy và học tập, thực hiện nghiêm túc quy chế, quy định của Học viện về hoạt động chuyên môn.Tích cực tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh để có địa điểm mới đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay. Củng cố, kiện toàn các tổ chức đoàn thể trong nhà trường. Phối hợp tốt với các cơ quan, đơn vị, địa phương để mở lớp nhằm góp phần chuẩn hóa đội ngũ theo quy định của Đảng và chính quyền.

Lịch sử 70 năm qua của Nhà trường vô cùng vẻ vang và sống động, vì thế, chặng đường phía trước là những thử thách, đòi hỏi cán bộ, giảng viên, học viên cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa để xứng đáng với quá khứ hào hùng ấy. Nhưng chúng ta cũng tin tưởng rằng quá khứ hào hùng ấy cũng là hành trang, là di sản tinh thần, là sự nhắc nhở động viên chúng ta luôn tiến lên phía trước, xứng đáng với tên gọi của vị Tổng bí thư Lê Duẩn, người con của quê hương Quảng Trị thân yêu, xứng đáng với sự tin cậy mà Đảng bộ và nhân dân đã đặt trọn lên đôi vai của những cán bộ, giảng viên học viên của trường trong 70 năm qua, dù giữa bom rơi đạn nổ hay trong năm tháng hòa bình. Và với hành trang tin yêu ấy chúng ta tiếp tục tiến lên cùng nhân dân, cùng đất nước!

 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây